1900 6018

Những điều cần biết về chức năng của da

Da là bộ phận lớn nhất trên cơ thể có diện tích 1,5 m2 đến 1,8 m2 và có trọng lượng trung bình là 15 – 18 kg. Da không phải chỉ là một màng bọc đơn thuần, mà là một cơ quan có nhiều chức phận quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với đời sống.
Cập nhật: 28/09/2015
Lượt xem: 734
Da là bộ phận lớn nhất trên cơ thể có diện tích 1,5 m2 đến 1,8 m2 và có trọng lượng trung bình là 15 – 18 kg. Da không phải chỉ là một màng bọc đơn thuần, mà là một cơ quan có nhiều chức phận quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với đời sống. Mặt khác da có liên quan mật thiết đến các bộ phận khác trong cơ thể. Da có nhiệm vụ cách ly giữa các cơ quan bên trong không bị thay đổi trong khi bề mặt da bên ngoài luôn biến đổi theo nhiệt độ và môi trường.

1. Chức năng bảo vệ:

Da là một hàng rào bảo vệ các cơ quan sâu như  thần kinh, mạch máu, cơ xương, phủ tạng khỏi các tác hại của các yếu tố cơ học, lý học, hoá học, vi khuẩn có hại.

Da có thể chống lại các chấn thương, sây xát từ ngoại cảnh.

Các sắc tố da cũng có tác dụng ngăn cản tác động của bức xạ ánh sáng bảo vệ các cơ quan dưới da…

2. Chức năng điều hoà nhiệt độ:

Da còn có vai trò chủ động trong điều hoà nhiệt độ: Khi nhiệt độ bên ngoài tăng cao, cơ thể phản ứng bằng giãn mạch máu dưới da để tăng toả nhiệt, đồng thời tăng tiết mồ hôi và tăng bốc hơi, làm giảm nhiệt. Ngược lại khi nhiệt độ bên ngoài thấp cơ thể sẽ phản ứng bằng co mạch máu dưới da, giảm tiết mồ hôi, giảm toả nhiệt trên da.

Tổn thương rộng trên da ảnh hưởng đến chức phận điều hoà nhiệt độ. Khi đó ngừng trệ tuần hoàn tĩnh mạch, vùng da tổn thương thường lạnh.

3. Chức năng bài tiết:

+ Bài tiết mồ hôi: Ngoài nhiệm vụ tham gia điều hoà thân nhiệt, mồ hôi còn có nhiệm vụ thải trừ các chất cặn bã, độc hại, chủ yếu là urê. Ở đây, da có vai trò hỗ trợ cho thận.

+ Bài tiết chất bã (sebum): tuyến bã thường tập trung nhiều nhất ở mặt, lưng, ngực. Chất bã làm cho da không ngấm nước, lớp sừng mềm mại, lông tóc trơn mượt, giúp cho da chống đỡ vớivi khuẩn và nấm.

4. Chức năng tạo keratin và tạo melanin:      


Có thể coi là 2 chức phận đặc hiệu của tế bào thượng bì, đồng thời cũng là 2 chức phận sơ đẳng đảm bảo cho sự toàn vẹn và lành mạnh của da.

Sự  sản sinh ra melanin được tiến hành trong các tế bào tua nằm xen kẽ ở lớp đáy. Tuỳ thuộc chủng tộc, tuổi tác, địa lý sự phân bố các sắc tố khác nhau tạo màu da khác nhau.

5. Chức năng cảm giác:

Cơ chế hiện tượng ngứa:

Có ba  loại cảm giác được  tiếp nhận da:Cảm giác sờ mó, tỳ ép, đụng chạm.

Nhờ có chức phận cảm giác mà cơ thể có thể thích ứng được với  ngoại cảnh và tránh được nhiều yếu tố có hại.

6. Miễn dịch:

Da có tế bào miễn dịch

7. Chức phận ngoại hình:

Tạo hình thái cơ thể con người.

8. Sự liên quan giữa da và nội tạng:

+ Da là nơi phản ánh nhiều rối loạn hoặc tổn thương nội tạng, nội tiết.

- Bệnh gan, mật biểu hiện vàng da và niêm mạc.

- Táo bón, giun sán có thể gây sẩn ngứa, eczema.

- Lao thận có thể gây xạm da.

- Rối loạn thiểu năng tuyến yên, giáp trạng có thể gây biến đổi ở da, lông, tóc, móng.

- Thiếu sinh tố có thể gây nhiều biến đổi đặc hiệu trên da.

+ Tổn thương da có thể ảnh hưởng sâu sắc đến nội tạng đến sức khoẻ chung.

- Bệnh da ngứa mạn tính có thể ảnh hưởng đến thần kinh trung ương, gây suy nhược thần kinh.

- Mụn nhọt, nhiễm trùng da có thể gây nhiễm khuẩn huyết, viêm cầu thận cấp nguy hiểm.

Nắm vững chức phận sinh lý da cũng có nghĩa đánh giá đúng mức vị trí của da trong cơ thể thống nhất, đồng thời thấy rõ tác hại của các bệnh ngoài da, do đó có thái độ đúng đắn trong chẩn đoán cũng như điều trị dự phòng các bệnh ngoài da, CHĂM SÓC DA đúng cách góp phần đảm bảo sức khoẻ, thẩm mỹ, mang lại sự tự tin cho mọi người.
Tin liên quan